Dịch từ bài blog OH CAPTAIN! MY CAPTAIN! OUR FEARFUL TRIP IS DONE! của Roger Ebert, đăng ngày 31 tháng 12 năm 2011.
Những người mở mắt chào đời cùng thời với tôi nay đang lần lượt nhắm mắt. Đêm giao thừa, tôi nhận được tin về hai người bạn: một người đã qua đời, người kia vừa từ bệnh viện trở về nhà để được chăm sóc giảm nhẹ. Kí ức đầu tiên hiện lên trong tâm trí tôi là hình ảnh họ đang cười. Tôi tin bất kì ai từng biết họ cũng sẽ nói như thế. Trong những năm tháng khám phá cuộc sống, khi tôi còn trẻ, khỏe mạnh và cả cuộc đời còn ở phía trước, họ là những vì sao trên bầu trời tôi. Họ như đã luôn sống và sẽ còn sống mãi, bởi đó là cách chúng ta phải sống, nếu muốn thật sự sống trên đời.
Tôi không còn khóc được nữa. Vì sao, tôi cũng không hoàn toàn hiểu rõ. Hẳn điều này có liên quan đến việc tôi mất đi giọng nói. Thỉnh thoảng vẫn có vài giọt nước mắt, nhưng những cơn nức nở làm cả người run lên – như khi tôi vùi mặt vào gối lúc cha mất, quỳ sụp bên giường mẹ, hay ôm lấy một người bạn trước mộ Bob Zonka – thì không còn nữa. Tôi ngồi đây, nhìn vào những kỉ niệm.
Mọi chuyện bắt đầu từ sáng sớm hôm nay. Thức giấc khoảng bảy giờ, tôi quyết định ngủ thêm một chút. Tâm trí bắt đầu lần tìm về những năm đại học, miên man với những điều tôi từng khám phá ở trường. Có lẽ dòng suy nghĩ ấy được khơi lên từ bộ phim tài liệu mới Paul Goodman Changes My Life. Cuốn Growing Up Absurd của Goodman từng là kinh thánh của thế hệ những năm 1960. Còn The Community of Scholars phác họa một trường đại học lí tưởng, nơi các chuyên ngành không bị ngăn cách bởi những bức tường, mà sinh viên được khuyến khích khám phá sự phong phú của cuộc sống.
Ở Urbana, tôi không ngừng tham gia các sự kiện. Xem phim, xem kịch, nghe hòa nhạc, đến câu lạc bộ dân ca, những buổi đọc thơ, nghe các diễn giả đến thăm trường, dự mít tinh chính trị, xem bóng bầu dục và bóng rổ. Trong cơn mơ màng, tôi nhớ lại cuộc sống của mình khi ấy đủ đầy biết bao. Những giá sách cũng dần chật kín các cuốn tôi biết đến trên lớp hoặc tìm thấy trong các hiệu sách. Biết bao chân lí, vẻ đẹp và cảm hứng chờ được khám phá.
Tôi gặp người bạn vừa qua đời tại Hội nghị các vấn đề thế giới thường niên ở Boulder, nơi tôi đã đến dự suốt khoảng ba mươi lăm năm. Mỗi mùa xuân, trong suốt một tuần, tôi được cuốn vào hết cuộc thảo luận này đến cuộc thảo luận khác, ở giữa những con người thú vị, kết giao với những người bạn sẽ gắn bó cả đời. Tôi đi nghe hòa nhạc, xem kịch, lùng sục các hiệu sách cũ, gặp gỡ những người từ khắp nơi trên thế giới. Tất cả đều mải mê suy nghĩ, đặt câu hỏi, khám phá.
Chicago cũng có ngần ấy cơ hội như Boulder, nhưng ở Chicago tôi luôn bận rộn. Tôi chợt nghĩ mình có thể hạnh phúc nghỉ hưu ở Boulder, hoặc một nơi nào khác ít dân hơn và có một trường đại học tốt. Những người bạn ở Boulder dường như vẫn luôn bắt nhịp với cuộc sống và tích cực dự phần vào đó bởi, theo một nghĩa nào đó, họ vẫn còn là sinh viên. Hẳn những thành phố đại học đáng sống khác cũng vậy. Người ta vẫn nhắc đến Madison, Austin, Missoula, Bloomington. Urbana.
Trong chừng mực có thể, tôi đã cố sống như một sinh viên vẫn đang lục lọi khắp thế giới, và nhờ thế gặp được những người cũng sống như mình. Tôi tìm thấy một người bạn đồng hành để sẻ chia chuyến hải hành này, rồi cưới cô ấy. Ở tòa soạn cũng có nhiều người vẫn đang lục lọi như thế. Bởi phóng viên báo chí là gì, nếu không phải một người muốn có giấy thông hành để đi khắp nơi và đặt câu hỏi cho những người xa lạ?
Người bạn đang được chăm sóc giảm nhẹ của tôi đã làm báo suốt đời: viết, biên tập, phát thanh, giảng dạy, xuất bản. Cười. Gặp gỡ. Giữ liên lạc. Làm một người bạn.
Có một cuốn sách mang tên Bowling Alone, “chơi bowling một mình”, và nhan đề ấy cứ ám ảnh tôi. Khắp nước Mĩ, những bức tường đang được dựng lên. Người ta ít gặp gỡ, giao lưu, ít tham gia các câu lạc bộ, ít hòa mình vào đời sống chung hơn trước. Chúng ta có quyền riêng tư, nhưng không còn cảm thấy mình có thể sang gõ cửa nhà hàng xóm mà chẳng báo trước. Người ta nhìn chúng ta bằng ánh mắt lạ lùng. Chúng ta đến đây làm gì? Nếu bạn nói: “Tôi chỉ nghĩ mình nên sang thăm hàng xóm”, bạn sẽ nhận lại ánh mắt ngỡ ngàng, thậm chí sợ hãi.
Khi sinh ra, chúng ta thấy mình đã ở trên con tàu Trái Đất, bắt đầu một chuyến đi không biết đích đến, cũng chẳng biết kéo dài bao lâu. Đó là một con tàu rất lớn. Ban đầu, chúng ta chỉ thấy vài hành khách, rồi ngày một nhiều hơn. Con tàu có rất nhiều tầng boong. Có những hành khách chúng ta chưa từng gặp, nhưng đã nghe nói đến, và trong tâm trí ta, họ được ghi tên vào hàng ngũ những người đang sống.
Một số được biết đến qua quan hệ họ hàng: “Chú Charlie của con ở Taylorville”. Một số qua tước hiệu: “Ngài Winston Churchill”. Một số qua công việc: “Joe DiMaggio của đội Yankees”. Một số có những thành tựu mà chỉ riêng tên họ đã đủ nói lên tất cả: “Ernest Hemingway”. “Louis Armstrong”. “Tổng thống Roosevelt”. “Albert Einstein”.
Tất cả đều đã ở trên tàu khi tôi bắt đầu chuyến đi. Giờ họ đều đã qua đời. Một mục đích của giáo dục là khơi dậy sự quan tâm đến những hành khách đã từng có mặt. Con tàu này trông ra sao trong những ngày họ ở trên đó?
Với bạn bè, chúng ta thường coi sự hiện diện của họ trên đời là điều hiển nhiên. Chỉ cần nhấc điện thoại lên. Rồi chúng ta sẽ gặp nhau lần tới. Mỗi tối thứ sáu. Mỗi dịp Lễ Tạ ơn. Vẫn chỗ ấy, vào năm sau. Họ sẽ luôn trở lại trong tầm mắt.
Rồi người quan trọng đầu tiên qua đời. Với tôi, đó là cha. Một biến cố lớn lao. Chuyện ấy lẽ ra không thể xảy ra. Những năm sau, số người mất đi mỗi năm bắt đầu nhiều hơn, cho đến khi tôi vượt qua một ngưỡng nào đó: số người tôi quen đã chết nhiều hơn số người còn sống. Có phải tôi cũng nên thu xếp hành lí, chuẩn bị rời tàu?
Sự sống trên hành tinh này là một chuỗi không đứt đoạn của những sinh vật cố gắng tồn tại và sinh sản. Ở một mức độ nào đó, dù rất sơ khai, quá trình ấy đã bao hàm sự tò mò: Là một sinh vật, tôi phải làm gì để tồn tại thành công?
Trong quá trình tiến hóa của các loài, một bước ngoặt quan trọng xuất hiện cùng khả năng biết chán. Nếu cuộc sống chỉ gồm ăn và sinh sản, chừng ấy đã đủ lấp kín sự tồn tại. Nhưng sự nhàm chán đặt ra một vấn đề: thời gian không có việc gì để làm, và làm sao lấp đầy khoảng thời gian ấy. Từ sự nhàm chán đã nảy sinh nền văn minh nhân loại, cùng tất cả nghệ thuật và khoa học của nó.
Những người bạn tôi nhắc đến ở đầu bài không chán đời, cũng chẳng làm người khác chán. Họ tò mò. Hãy chọn những người bạn thân trong số những người luôn mang đến điều gì đó cho cuộc vui. Kết bạn mới không dễ. Khi bạn già đi, thế giới quanh bạn không ngừng thu hẹp, cho đến khi, nếu sống đủ lâu, bạn trở về với tình trạng ban đầu lúc mới lên tàu: quanh mình chỉ còn những người cho bạn ăn và chăm sóc bạn.
Tin tức về hai người bạn ấy khiến vòng dây thòng lọng siết lại gần hơn một chút. Khi tên họ hiện lên trong tâm trí, họ đã không còn trong danh sách hành khách. Con tàu trở nên cô quạnh hơn.
Có người từng khuyên George Burns hãy hẹn hò với những cô gái cùng tuổi ông. “Chẳng có cô gái nào bằng tuổi tôi cả.”
Với tất cả chúng ta, những người cùng tuổi cứ ít dần, ít dần. Ai muốn là người cuối cùng còn lại trên tàu?
Tôi hạnh phúc vì đã biết họ. Họ hạnh phúc vì đã biết tôi. Chúng tôi đã cùng nhau làm chuyến đi này bớt nhàm chán đi đôi chút.
Tựa bài viết trích câu mở đầu bài thơ “O Captain! My Captain!” (Ôi thuyền trưởng! Thuyền trưởng của tôi!) của Walt Whitman, viết năm 1865 để tưởng niệm Tổng thống Mĩ Abraham Lincoln. Hình ảnh con tàu kết thúc chuyến hải hành gian nan nhưng mất đi người thuyền trưởng gợi nỗi đau chia biệt giữa lúc hành trình đã về đích.
Khám phá thêm từ Phan Cao Hoài Nam
Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.
